|   |   | 
Trang chủ Trang ảnh Video Liên hệ
GKN wiki
Giới thiệu chung
Gạch Xi măng cốt liệu
Gạch không nung DmC
Gạch bê tông nhẹ
Lợi ích của gạch không nung
Các tiêu chuẩn gạch không nung
Cơ chế chính sách
Các nhà cung cấp
Gạch không nung tại Việt Nam
Video clip
Hỗ trợ trực tuyến
Tìm đến DmC
Quảng cáo
GKN wiki    Cơ chế chính sách
Nước ta hiện nay tiêu thụ từ 20 đến 22 tỷ viên gạch một năm, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng ước tính gấp đôi,  khoảng 42 tỷ viên. Để đạt được lượng gạch này, cần một lượng đất khoảng 600 triệu m3, tương đương 30.000ha đất canh tác. Hay nói nôm na, mỗi năm phải nướng diện tích một xã vào lò gạch. Gạch nung còn tiêu tốn nhiều năng lượng than, củi. Những lò gạch thải vào bầu khí quyển một lượng khí độc lớn. Trong bối cảnh đó, việc sử dụng gạch không nung là xu thế tất yếu của thế giới. Việt Nam cũng đã có gạch không nung, nhưng tỷ lệ sử dụng rất thấp, chỉ chiếm từ 8 đến 10% sản lượng gạch toàn quốc. Lý do, ngoài thói quen sử dụng gạch nung từ lâu nay, còn nguyên nhân về giá thành, thiếu cơ chế chính sách, thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn...

- Nghị định 121/2008-TTG của Viện vật liệu xây dựng – Bộ xây dựng trình thủ tướng đã phê duyệt đưa ra lộ trình đưa gạch không nung vào thay thế vật liệu nung quy hoạch tới năm 2020. Theo lộ trình đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, tỷ lệ vật liệu xây không nung trên tổng số vật liệu xây vào các năm 2010 sẽ là 10% để đến năm 2015 tăng lên từ 20-25% và bứt phá vào năm 2020 với 30 đến 40%; ứng dụng các công nghệ mới trong sản xuất vật liệu xây dựng, các sản phẩm vật liệu mới tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường và phát triển bền vững.

- Công văn 2383/BXD – VLXD ngày 27/11/2008 của Bộ xây dựng gửi các Sở xây dựng các tỉnh thành phố phát triển vật liệu xây, gạch không nung thay thế cho gạch ngói nung để giảm ô nhiễm môi trường. - UBND TP Hà Nội đã chỉ thị nghiêm cấm sử dụng đất nông nghiệp để sản xuất gạch ngói, đồng thời không cho phép các xã, thôn, ký hợp đồng mới, gia hạn hợp đồng về sản xuất gạch bằng lò thủ công gây ô nhiễm môi trường tại địa phương. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng không cho phép tận dụng đất đào từ các công trình nuôi trồng thủy sản, kênh mương, ao hồ để sản xuất gạch ngói bằng lò thủ công.

- UBND TP HCM khuyến khích sử dụng gạch không nung vào các công trình sử dụng vốn ngân sách, công trình nhà cao tầng, công trình nhà ở, ký túc xá sinh viên... Tất cả nhằm mục tiêu phát triển các loại VLXD thân thiện với môi trường bằng công nghệ tiên tiến. Trong nội dung của đồ án quy hoạch phát triển VLXD TPHCM đến năm 2020 thì đến năm 2015, các cơ sở khai thác, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) có hàm lượng khí thải vượt quá quy định hoặc không có hệ thống xử lý chất thải phải chuyển đổi sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến hoặc phải ngừng sản xuất.

Quyết định số 567/QĐ-TTg ra ngày 28/04/2010 đã phê duyệt chương trình phát triển vật liệu không nung đến năm 2020. Để thực hiện mục tiêu đạt 40% vật liệu xây không nung (VLXKN) đến năm 2020 bằng 16,8 tỷ viên, trung bình mỗi năm phải đầu tư mới 1,6 tỷ viên. Căn cứ vào nguồn nguyên liệu của từng vùng, nhu cầu của thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng để đầu tư các cơ sở sản xuất VLXKN thích hợp. Phát triển sản xuất VLXKN cốt liệu xi măng, cát, tro xỉ, mạt đá, trên các dây chuyền 3 triệu, 7 triệu, 15 – 40 triệu viên/năm ở các vùng nông thôn, miền núi, các KĐT, KCN, trước tiên thay thế các lò gạch thủ công. Loại vật liệu này chiếm 60 – 70% VLXKN vào năm 2020. Đầu tư sản xuất đá chẻ, đá ong, VLXKN từ đất đồi, từ phế thải xây dựng, phế thải công nghiệp (bùn đỏ) với các dây chuyền sản xuất trên 8 – 20 triệu viên TC/năm, chiếm khoảng 5% VLXKN. Tập trung đầu tư phát triển VLXKN mới, bê tông nhẹ chiếm tỷ lệ 25 – 35%, tương đương 6,5 – 8 triệu m3 vào năm 2020. Trong đó bê tông khí chưng áp AAC có chất lượng cao, kích thước lớn, phù hợp với việc xây nhà cao tầng, công trình quy mô lớn ở các KĐT, cần được đầu tư sản xuất trên các dây chuyền hiện đại, công suất từ 100 – 400 nghìn m3/năm (có sản xuất tấm cốt thép nhẹ) là hướng phát triển chủ yếu. Bê tông bọt có chất lượng thấp hơn, kích thước nhỏ hơn, quy mô công suất hợp lý từ 10 – 30 nghìn m3/năm theo công nghiệp cơ giới hóa và một phần tự động hóa, thiết bị chế tạo trong nước với vốn đầu tư thấp sẽ được đầu tư ở các vùng có nhu cầu ít, đến năm 2020 sản lượng bê tông bọt chiếm khoảng 5% VLXKN.

1. Các giải pháp khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất VLXKN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các chính sách ưu đãi về thuế, đầu tư, thuê đất, vốn vay… Chính sách khuyến khích sử dụng VLXKN vào công trình.

2. Các địa phương còn xây dựng và công bố quy hoạch sử dụng đất để sản xuất gạch đất sét nung, không sử dụng đất nông nghiệp. Ban hành các chính sách tăng trưởng tỷ lệ gạch rỗng đất sét nung lên 80% vào năm 2020. Tăng thuế tài nguyên đất sét làm VLXD.

3. Hoàn thiện công nghệ sản xuất VLXKN, nghiên cứu sử dụng tất cả các nguồn phế thải công nghiệp. Nghiên cứu sản xuất phụ gia, chất tạo bọt và bột nhôm kỹ thuật chế tạo vữa xây, trát VLXKN.

4. Nâng cao năng lực cơ khí trong nước để chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN, để giảm nhập khẩu, phấn đấu đến năm 2020 không nhập khẩu.

5. Soát xét, hoàn chỉnh đồng bộ hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn, kỹ thuật, các quy trình, quy phạm, hướng dẫn thi công và các định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản xuất và sử dụng VLXKN, tạo điều kiện cho các nhà tư vấn, thiết kế đưa VLXKN vào công trình.

6. Để đưa VLXKN vào cuộc sống cần phải tổ chức tốt công tác tuyên truyền, thông tin để cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các chủ thể trong hoạt động xây dựng và mọi người dân nhận rõ những ưu điểm, lợi thế trong việc sản xuất, sử dụng VLXKN, đồng thời thấy được những tác động tiêu cực của việc sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung không theo quy hoạch, để tập trung mọi năng lực phát triển sản xuất và sử dụng VLXKN, góp phần phát triển ngành công nghiệp VLXD nước ta hiện đại, bền vững.


® DmC Group
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Sản phẩm | Khách hàng | Cẩm nang | Trang ảnh | Liên hệ
© Trang Điện tử DmC Group, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phát triển Đoàn Minh Công
ĐC: Phạm Xá, Ngọc Sơn, Tứ Kỳ, Hải Dương, Việt Nam;
ĐT: 0320 3 624 222/ 0320 3 624 567/ 0320 2 222 333; Fax: 03203.624.623;
VP ĐD: 1803, tòa nhà CT2, 583 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT: 04355 28072 Fax: 0435528073
Website: www.DmCgroup.vn; Email: info@DmCgroup.vn
-----------------------
® Ghi rõ nguồn "DmC Group" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Designed by Thietkeweb - Seo
 Sơ đồ website