|   |   | 
Trang chủ Trang ảnh Video Liên hệ
Cẩm nang
Cẩm nang DmC
Cẩm nang xây dựng
Cẩm nang pháp luật
Cẩm nang Nhà đẹp
Cơ chế phát triển sạch CDM
Tìm hiểu CN DmCline
Hỏi đáp
Hướng dẫn ứng viên nộp hồ sơ online
Video clip
Hỗ trợ trực tuyến
Tìm đến DmC
Quảng cáo
Cẩm nang    Cơ chế phát triển sạch CDM
Thông tin cơ bản về CDM
(18/02/2011)
Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong ba cơ chế thiết lập bởi Nghị định thư. Cơ chế này đóng vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Có 2 phương thức CDM, đó là CDM cho giảm khí nhà kính (CDM thông thường hay CDM năng lượng) và CDM cho hấp thụ khí nhà kính bằng các bể hấp thụ (Trồng rừng/ Tái trồng rừng theo CDM hay AR-CDM).

>>> DmC Group tích cực triển khai chương trình CDM

Hiện tượng nóng lên toàn cầu


Chúng ta đang ngày càng phải đương đầu với nhiều hiện tượng thiên tai gây ra bởi sự biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ lụt, bão. Đó là những mối đe doạ nguy hại nhất đối với xã hội của chúng ta, đe doạ các hoạt động kinh tế và đe doạ môi trường.

Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư ngày 2/2/2007 (AR4) của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì Nồng độ các khí carbon dioxide, methane và nitrous oxide trong khí quyển toàn cầu đã tăng đáng kể là hệ quả của các hoạt động của con người từ năm 1750. Hiện tượng tăng nồng độ carbon dioxide chủ yếu gây ra bởi việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi kiểu sử dụng đất, còn tăng nồng độ methane và nitrous oxide chủ yếu do các hoạt động nông nghiệp. Nếu không khẩn trương tiến hành các biện pháp đối phó nhằm giảm sự phát thải các khí nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,8-4,0 độ C vào cuối thế kỷ này.

Các biện pháp chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu

Từ những năm 1980, chính phủ nhiều nước đã bắt đầu hành động chống lại hiện tượng nóng lên toàn cầu. Năm 1988, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thành lập Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin khoa học tin cậy có liên quan. IPCC gồm hàng trăm nhà khoa học đầu ngành có uy tín và những chuyên gia trong lĩnh vực nóng lên toàn cầu có nhiệm vụ đánh giá hiện trạng thông tin, kiến thức hiện có về biến đổi khí hậu, đánh giá tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu đến môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội, đồng thời đưa ra những tư vấn thực tiễn về mặt chính sách. Năm 1990, IPCC xuất bản một báo cáo kết luận rằng nếu không kịp thời thực hiện các biện pháp giảm phát thải thì sự tích luỹ ngày càng tăng các khí nhà kính sản sinh ra bởi con người trong khí quyển “sẽ làm tăng hiệu ứng nhà kính, dẫn đến tình trạng nhiệt độ bề mặt trái đất sẽ tăng lên” trong thế kỷ tới. Báo cáo cũng khẳng định rằng sự biến đổi khí hậu là một mối đe doạ đối với toàn nhân loại và kêu gọi một hiệp ước quốc tế nhằm giải quyết vấn đề này.

Cuối năm 1990, Hội nghị khí hậu thế giới lần thứ hai cũng đã lặp lại lời kêu gọi này. Đại hội đồng liên hợp quốc đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc chính thức phát động đàm phán công ước khung về sự biến đổi khí hậu và thành lập “Uỷ ban Đàm phán Liên chính phủ” để xây dựng hiệp ước này. Các cuộc đàm phán nhắm tới xây dựng một hiệp ước quốc tế về bảo vệ khí hậu toàn cầu bắt đầu diễn ra từ năm 1991 và kết quả là tháng 5/1992 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã ra đời.

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNFCCC

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) được ký kết tại Hội nghị Phát triển và Môi trường Liên hợp quốc (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất) tại Rio de Janeiro, Brazil tháng 6/1992 và có hiệu lực từ tháng 3/1994. Mục tiêu cuối cùng của Công ước là ổn định nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển ở mức an toàn. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các nước tham gia phải có cam kết chung về các hành động chống lại sự biến đổi khí hậu, điều chỉnh theo điều kiện của từng quốc gia nhằm triển khai thực hiện Công ước. Công ước chia các nước tham gia theo 2 nhóm: Các bên Phụ lục I và Các bên ngoài Phụ lục I. Các bên Phụ lục I bao gồm các nước công nghiệp, những nước về mặt lịch sử được coi là có nhiều các hoạt động gây ra sự biến đổi khí hậu. Các bên ngoài Phụ lục I chủ yếu bao gồm các nước đang phát triển. Công ước đưa ra nguyên tắc bình đẳng và “trách nhiệm chung nhưng khác nhau” yêu cầu Các bên trong Phụ lục I phải dẫn đầu trong việc tới năm 2000 phải giảm mức phát thải khí nhà kính của họ xuống tới mức của năm 1990. Họ phải đệ trình báo cáo thường kỳ, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng công bố các chương trình chính sách về biến đổi khí hậu cũng như các điều tra hàng năm về giảm phát thải khí nhà kính.

Nghị định thư Kyoto


Nghị định thư Kyoto là một nghị định của UNFCCC được phê chuẩn tại Kyoto, Nhật Bản tháng 12 năm 1997. Nghị định đưa ra nghĩa vụ bắt buộc mang tính pháp lý cho 38 nước công nghiệp bao gồm 11 nước Trung và Đông Âu, giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống một mức trung bình dưới 5,2% so với mức của năm 1990. Đây là mức trung bình trong thời kỳ cam kết thứ 1 từ 2008-2012. Mục tiêu đề cập đến 6 loại khí nhà kính chính bao gồm (1) carbon dioxide, (2) methane, (3) nitrous oxide, (4) hydrofluorocarbons (HFCs), (5) perfluorocarbons (PFCs), và (6) sulphur hexafluoride. Mục tiêu cũng đề cập đến một số hoạt động thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp như phá rừng phát tán carbon dioxide ra khí quyển và tái trồng rừng hấp thụ dioxide từ khí quyển.

Sau khi Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn, các cuộc đàm phán thoả thuận vẫn tiếp tục diễn ra nhằm xây dựng chi tiết thể thức hoạt động của Nghị định thư. Mặc dù Nghị định thư xác định một số thể thức nhằm giúp Các bên đạt được mục tiêu của họ nhưng nó không đi sâu vào chi tiết cụ thể. Sau hơn 4 năm tranh luận, cuối cùng các chính phủ đã thống nhất được một nguyên tắc chung tổng hợp - hiệp ước Marrakech – làm thế nào để thực hiện Nghị định thư Kyoto. Hiệp ước cũng cung cấp cho các chính phủ những thông tin chi tiết, đầy đủ để họ có thể tham khảo trong quá trình xem xét đưa ra quyết định phê chuẩn.

Nghị định thư Kyoto có hiệu lực vào ngày 16/2/2005 sau khi Cộng hoà Liên bang Nga phê chuẩn, thoả mãn yêu cầu (i) không dưới 55 nước tham gia UNFCCC và (ii) phối hợp với Các bên trong Phụ lục I mà chiếm ít nhất 55% tổng lượng phát thải CO2 năm 1990 của Các bên trong Phụ lục I.
 
CDM, Tim hieu ve CDM
 
 Năm thông qua Nghị định thư Protocol

 Cơ chế Kyoto và CDM

Nghị định thư Kyoto thiết lập ba (3) cơ chế hỗ trợ các nước công nghiệp (Các bên Phụ lục I) giảm nhẹ phát thải khí nhà kính để đạt được mục tiêu giảm phát thải với chi phí thấp nhất.
 
Cơ chế phát triển sạch (CDM) CDM cho phép các dự án giảm phát thải hỗ trợ phát triển bền vững ở các nước đang phát triển tạo “giảm phát thải được chứng nhận” mà các nhà đầu tư có thể sử dụng.
Cơ chế đồng thực hiện (JI) JI cho phép các nước nhận tín chỉ giảm phát thải tạo ra được từ việc đầu tư vào các nước công nghiệp khác từ đó dẫn đến việc chuyển giao các “đơn vị giảm phát thải” tương ứng giữa các quốc gia
Cơ chế Buôn bán phát thải quốc tế (IET) IET cho phép hoạt động chuyển các đơn vị “phát thải được cho phép” giữa các quốc gia.
(Nguồn: Giới thiệu về CDM, UNEP)

Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong ba cơ chế thiết lập bởi Nghị định thư. Cơ chế này đóng vai trò rất quan trọng đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Có 2 phương thức CDM, đó là CDM cho giảm khí nhà kính (CDM thông thường hay CDM năng lượng) và CDM cho hấp thụ khí nhà kính bằng các bể hấp thụ (Trồng rừng/ Tái trồng rừng theo CDM hay AR-CDM).
 
Khai quat hoat dong CDM

 Khái quát chung về các hoạt động CDM

Dưới Nghị định thư Kyoto, Các bên trong Phụ lục (các quốc gia) có nghĩa vụ thực hiện việc giảm phát thải khí nhà kính (mục tiêu giảm phát thải) trong khi Các bên ngoài Phụ lục I (các quốc gia) không có mục tiêu phát thải. Các hệ thống CDM hướng tới thực hiện các hoạt động dự án nhằm giảm phát thải khí nhà kính (hoặc loại bỏ khí nhà kính bằng các hoạt động lâm nghiệp) ở các nước ngoài Phụ lục I. Thông qua các hoạt động dự án này, các tín chỉ cácbon sẽ được ban hành dựa trên giảm phát thải (hoặc lượng bị loại bỏ nhờ các hoạt động lâm nghiệp)  Tín chỉ cácbon thu được từ các hoạt động CDM được gọi là Giảm phát thải được chứng nhận (CER), và các giảm phát thải sẽ bổ sung cho bất kỳ sự suy giảm nào có thể xảy ra trong trường hợp không có các hoạt động dự án được chứng nhận.. Các bên trong Phụ lục I có thể sử dụng CER để thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto. Như vậy là lượng giảm phát thải của Các bên trong Phụ lục I sẽ tăng lên. Mặt khác, Các bên ngoài Phụ lục I cũng được hưởng lợi từ việc bán (chuyển) tín chỉ cácbon cho Các bên trong Phụ lục I. Cơ chế này sẽ đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
Theo VFU
  Facebook Liên hệ In trang
Tin liên quan
» CDM và những tiềm năng cho Việt Nam (Kì I)
» CDM và những tiềm năng cho Việt Nam (Kì II)
» Hướng dẫn xây dựng dự án Cơ chế phát triển sạch CDM trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto
» Những lợi ích từ CDM
» Quy trình phê duyệt các dự án CDM
» Thể chế liên quan đến CDM tại Việt Nam
» Các chính sách và quy định của CDM
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Sản phẩm | Khách hàng | Cẩm nang | Trang ảnh | Liên hệ
© Trang Điện tử DmC Group, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phát triển Đoàn Minh Công
ĐC: Phạm Xá, Ngọc Sơn, Tứ Kỳ, Hải Dương, Việt Nam;
ĐT: 0320 3 624 222/ 0320 3 624 567/ 0320 2 222 333; Fax: 03203.624.623;
VP ĐD: 1803, tòa nhà CT2, 583 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT: 04355 28072 Fax: 0435528073
Website: www.DmCgroup.vn; Email: info@DmCgroup.vn
-----------------------
® Ghi rõ nguồn "DmC Group" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Designed by Thietkeweb - Seo
 Sơ đồ website