|   |   | 
Trang chủ Trang ảnh Video Liên hệ
Cẩm nang
Cẩm nang DmC
Cẩm nang xây dựng
Cẩm nang pháp luật
Cẩm nang Nhà đẹp
Cơ chế phát triển sạch CDM
Tìm hiểu CN DmCline
Hỏi đáp
Hướng dẫn ứng viên nộp hồ sơ online
Video clip
Hỗ trợ trực tuyến
Tìm đến DmC
Quảng cáo
Cẩm nang    Cẩm nang pháp luật
Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020
(17/12/2010)

QUYẾT ĐỊNH

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 121/2008/QĐ-TTg NGÀY 29 THÁNG 08 NĂM 2008

PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU

XÂY DỰNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

 

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

 

QUYẾT ĐỊNH:

 

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau:

1. Quan điểm phát triển

a) Phát triển vật liệu xây dựng phải bảo đảm tính bền vững, góp phần phát triển kinh tế, tạo sự ổn định xã hội và bảo vệ môi trường; phù hợp với các quy hoạch khác liên quan;

b) Phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở khai thác có hiệu quả thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, thế mạnh về thị trường và lao động, đồng thời không ngừng đào tạo nâng cao năng lực quản lý, vận hành sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh;

c) Phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở lựa chọn quy mô công suất hợp lý, công nghệ hiện đại, sạch, tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu; sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; từng bước loại bỏ các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp;

d) Phát triển vật liệu xây dựng trước hết đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước đồng thời lựa chọn những sản phẩm công nghệ Việt Nam có lợi thế để xuất khẩu, trong đó chú trọng các sản phẩm được sản xuất với trình độ công nghệ có hàm lượng chất xám cao;

đ) Đa dạng hoá các hình thức đầu tư, thu hút mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất vật liệu xây dựng. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng;

e) Thống nhất quản lý đầu tư phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt. Quy hoạch vật liệu xây dựng được rà soát và điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo từng thời kỳ cụ thể;

g) Sản phẩm vật liệu xây dựng phải phù hợp với điều kiện khí hậu, phù hợp với tập quán sinh hoạt ở Việt Nam, vừa có tính truyền thống vừa hiện đại, thân thiện môi trường, có sức cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

2. Mục tiêu phát triển

a) Khai thác tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, thị trường, công nghệ, lao động để phát triển ngành vật liệu xây dựng thành ngành kinh tế mạnh, từ năm 2010 đáp ứng về số lượng, chất lượng và các chủng loại vật liệu xây dựng cơ bản đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu;

b) Sản xuất vật liệu xây dựng có công nghệ tiên tiến tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, tiêu hao nguyên liệu và năng lượng thấp, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bền vững;

c) Nâng cao năng lực quản lý, vận hành ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Đội ngũ cán bộ ngành vật liệu xây dựng phải nhanh chóng làm chủ công nghệ sản xuất;

d) Đến năm 2015 Việt Nam phải tự chế tạo được các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng quy mô tương đối lớn, có trình độ công nghệ tiên tiến, phải làm chủ trong việc sản xuất, dịch vụ cung cấp phụ tùng thay thế, đặc biệt là phụ tùng thay thế cho nhà máy xi măng.

3. Định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020

Tiếp tục đầu tư phát triển các loại vật liệu cơ bản như: xi măng, vật liệu ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây, vật liệu lợp, đá xây dựng, cát xây dựng và vật liệu trang trí hoàn thiện, đồng thời chú trọng phát triển các loại vật liệu mới, thân thiện với môi trường.

a) Xi măng:

- Định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác đá vôi sản xuất xi măng và bảo vệ môi trường.

Quy mô đầu tư, công nghệ khai thác đá vôi và các nguyên liệu khác để sản xuất xi măng phải thực hiện theo các nội dung trong "Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020", bảo vệ tốt môi trường cảnh quan, trong đó cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

+ Hàng năm, các cơ sở khai thác phải tiến hành xử lý hoàn nguyên theo quy định của Luật Khoáng sản về môi trường ở khu vực khai thác, bao gồm: phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai sau khi kết thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khoáng sản; xử lý nước thải theo tiêu chuẩn về môi trường trước khi thải;

+ Thường xuyên kiểm tra theo dõi đặc điểm địa hình các khu vực mỏ đang khai thác và có biện pháp bảo đảm an toàn lao động.

- Định hướng quy hoạch phát triển sản xuất xi măng.

Phát triển sản xuất xi măng phải căn cứ vào Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó:

+ Hoàn thành các dự án đầu tư mới và mở rộng quy mô các nhà máy xi măng theo tiến độ đã được phê duyệt. Ưu tiên phát triển dự án đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng ở các tỉnh phía Nam, nơi có thị trường tiêu thụ lớn và vùng kinh tế còn khó khăn, các dự án đầu tư mở rộng, dự án chuyển đổi từ công nghệ lò đứng sang công nghệ lò quay;

+ Phát triển các nhà máy xi măng lò quay có công nghệ hiện đại, quy mô lớn, cơ giới hoá và tự động hoá cao, tiêu tốn ít nhiên liệu, nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng và gỉam thiểu ô nhiễm môi trường;

+ Đối với các cơ sở sản xuất hiện có, phải thường xuyên đầu tư, nghiên cứu đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất để nâng cao chất lượng và năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, thường xuyên kiểm tra việc đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, kiên quyết dừng hoạt động đối với các trường hợp không đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường;

+ Không đầu tư mới các nhà máy xi măng lò đứng và các trạm nghiền không có cơ sở sản xuất clanhke;

+ Phát triển đa dạng các chủng loại xi măng để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xúc tiến thương mại để xuất khẩu khi cần thiết.

b) Gạch gốm ốp lát và sứ vệ sinh:

- Định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác, chế biến đất sét cao lanh và fenspat cho sản xuất gốm sứ xây dựng và bảo vệ môi trường, phải thực hiện theo các nội dung trong "Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020", trong đó cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

+ Tập trung nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ chế biến đất sét, cao lanh và fenspat cho phù hợp với đặc điểm và nguồn gốc thành tạo khoáng sản;

+ Tổ chức những cụm khai thác, chế biến cao lanh và fenspat tập trung để sản xuất các nguyên liệu thương phẩm, bảo đảm ổn định chất lượng;

+ Các cơ sở khai thác chế biến phải có những định hướng cụ thể về mục đích sử dụng đối với từng loại nguyên liệu có yêu cầu chất lượng khác nhau.

- Định hướng quy hoạch phát triển sản xuất gạch ốp lát và sứ vệ sinh.

Định hướng phát triển về đầu tư, công nghệ, chủng loại sản phẩm và xuất khẩu:

+ Các cơ sở sản xuất hiện có cần đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, hạ giá thành sản xuất và phải bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường trong sản xuất;

+ Đầu tư các cơ sở sản xuất tập trung công suất lớn, chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu để nâng cao hiệu quả đầu tư, tiết kiệm chi phí vật tư, năng lượng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;

+ Quy mô công suất của một cơ sở sản xuất gạch gốm ốp lát phải đạt từ 2 triệu m2/năm trở lên;

+ Đối với các cơ sở đầu tư mới công nghệ cần đạt các tiêu chí sau:

• Công nghệ sản xuất gạch ốp lát hiện đại phải sản xuất được nhiều loại sản phẩm với các kích thước khác nhau; có khả năng ứng dụng các công nghệ trang trí mới để tạo ra các sản phẩm đa dạng có giá trị kinh tế; đồng thời có mức tiêu thụ nhiên liệu và năng lượng như sau:

. Khí hoá lỏng (LPG) ≤ 0,88 kg/m2 sản phẩm;

. Dầu diezel ≤ 1,07 kg/m2 sản phẩm;

. Điện ≤ 2,58 Kwh/m2 sản phẩm.

Đối với các cơ sở sản xuất có điều kiện, có thể nghiên cứu sử dụng khí hoá than để thay thế song phải tuân thủ các tiêu chuẩn về khí thải để bảo đảm không làm ô nhiễm môi trường và chất lượng sản phẩm.

• Công nghệ sản xuất sứ vệ sinh hiện đại có khả năng đúc các sản phẩm có kích thước lớn với các tính năng sử dụng hiện đại, giảm tiếng ồn, giảm độ bám đính và tiết kiệm nước khi sử dụng; có khả năng sử dụng lớp phủ nano để nâng cao chất lượng bề mặt sản phẩm; đồng thời có mức tiêu hao nhiên liệu và năng lượng như sau:

. Khí hoá lỏng (LPG) ≤ 0,275 kg/kg sứ;

. Dầu diezel ≤ 0,72 kg/kg sứ;

. Điện ≤ 0,55 Kwh/kg sứ.

• Đối với các cơ sở sản xuất có sử dụng các nhiên liệu khác thay thế thì yêu cầu phải đạt các chỉ tiêu tiêu hao tương ứng.

+ Chủng loại sản phẩm phải đa dạng, với nhiều mẫu mã, đặc biệt là các loại sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu:

. Mục tiêu xuất khẩu: giai đoạn từ nay đến năm 2010 khoảng 20%, giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 25% và giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 30% sản lượng.

c) Kính xây dựng.

- Định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác, chế biến cát trắng cho sản xuất thuỷ tinh xây dựng và bảo vệ môi trường: thực hiện theo các nội dung quy định tại "Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020". Cụ thể cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

+ Đầu tư công nghệ chế biến làm giàu cát phù hợp với các loại cát ở từng khu vực, để sản phẩm đạt chất lượng tốt, bảo đảm yêu cầu của sản xuất kính;

+ Không xuất khẩu cát trắng chưa qua chế biến.

- Định hướng quy hoạch phát triển sản xuất kính xây dựng.

Định hướng phát triển về đầu tư, công nghệ, chủng loại sản phẩm và xuất khẩu:

+ Phải đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ của các cơ sở sản xuất kính xây dựng hiện có, nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, hạ giải thành sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường;

+ Chú trọng sản xuất các mặt hàng kính có kích thước và độ dầy lớn; các loại kính có tác dụng cách âm, cách nhiệt tiết kiệm năng lượng, kính an toàn, kính có khả năng tự làm sạch phù hợp với khí hậu nóng ẩm mưa nhiều ở nước ta; các loại kính trang trí, nghệ thuật; các loại bloc thuỷ tinh... ;

+ Đầu tư như theo công nghệ kính nổi hiện đại, tiêu hao nhiên liệu và năng lượng thấp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mức tiêu hao nhiên liệu và năng lượng như sau:

. Dầu FO ≤ 200 kg/tấn sản phẩm;

. Dầu DO ≤ 0,5 kg/tấn sản phẩm;

. Điện ≤ 100 Kwh/tấn sản phẩm.

Tập trung nghiên cứu phát triển các công nghệ sau kính để sản xuất các chủng loại kính đặc biệt; đa dạng hoá sản phẩm phù hợp với nhu cầu ngày càng lớn và đòi hỏi thẩm mỹ ngày càng cao của thị trường.

+ Việc lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất kính cần phải chú ý tới yêu cầu đặc thù của công nghệ (sản xuất liên tục), nhằm tránh các sự cố ảnh hưởng tới công nghệ sản xuất do các nguyên nhân khác nhau gây ra, đặc biệt là ở các khu vực hay xảy ra thiên tai bão lụt;

+ Mục tiêu xuất khẩu: giai đoạn từ nay đến năm 2010 khoảng 20%, giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 25% và giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 30% sản lượng.

d) Vật liệu xây: khuyến khích đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu xây không nung, hạn chế tối đa việc sản xuất vật liệu xây từ đất nông nghiệp.

- Gạch đất sét nung:

+ Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có, nhằn giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và bảo vệ môi trường;

+ Phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao ≥ 50% để tiết kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, tăng tính cách âm, cách nhiệt;

+ Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công hiện nay để chuyển sang công nghệ lò tuynen, hoặc các công nghệ tiên tiến khác bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường của Việt Nam;

+ Phát triển sản xuất gạch nung chất lượng cao có giá trị kinh tế, đặc biệt là các loại gạch xây không trát phục vụ xây dựng trong nước và xuất khẩu;

+ Khuyến khích việc chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ đất sét trong sản xuất gạch nung sang nguyên liệu đất đồi, đất bãi và phế thải công nghiệp (đá bìa trong khai thác than, đá sít than...).

- Vật liệu xây không nung:

+ Phát triển sản xuất vật liệu xây không nung từ các nguyên liệu như xi măng, đá mạt, cát và tro xỉ nhiệt điện...; theo hướng công nghệ hiện đại, quy mô lớn, kích thước lớn, nhẹ để thay thế dần gạch xây sản xuất từ đất sét nung. Tỷ lệ gạch không nung đến năm 2015 là 20 ÷ 25% và năm 2020 là 30 ÷ 40% tổng số vật liệu xây trong nước;

+ Đầu tư nghiên cứu các đề án phát triển vật liệu không nung;

+ Khuyến khích phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ, siêu nhẹ dùng để làm tường, vách ngăn, vật liệu chống cháy, chậm cháy, vật liệu cách âm, cách nhiệt, cách điện, tiết kiệm năng lượng.

đ) Vật liệu lợp:

- Phát triển sản xuất ngói nung truyền thống 22 viên/m2 ở các địa phương có nguồn nguyên liệu, bảo đảm chất lượng sản phẩm và hạn chế tối đa ảnh hưởng đến môi trường với các chỉ tiêu về nhiên liệu và năng lượng như sau:

+ Than cám 4 - 5 ≤ 209 kg/1000 viên;

+ Điện ≤ 59 KWh/1000 viên.

- Phát triển sản xuất các loại ngói tráng men, ngói trang trí chất lượng cao có giá trị kinh tế, phục vụ cho xây dựng trong nước và xuất khẩu.

- Phát triển sản xuất các loại ngói không nung có màu sắc đa dạng đáp ứng nhu cầu cho các khu vực đô thị, nông thôn, cho các vùng hay bị lụt bão.

- Phát triển đa dạng các sản phẩm tấm lợp như tấm lợp composite, tấm lợp polycarbonate, tấm lợp polycarbonate - hợp kim nhôm, tấm lợp từ sợi hữu cơ và bi tum, tấm lợp acrylic có phủ các hạt đá tự nhiên...và gia công các tấm lợp kim loại.

- Nghiêm cấm việc sử dụng amiăng amfibole (amiăng nâu và xanh) trong sản xuất tấm lợp.

- Các cơ sở sản xuất tấm lợp sử dụng amiăng chrysotile phải không ngừng đầu tư chiều sâu, hoàn thiện công nghệ bảo đảm nghiêm ngặt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường và y tế.

e) Đá xây dựng:

- Tiếp tục đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ sản xuất khai thác để xây dựng ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

- Kiểm tra, tổ chức sắp xếp lại sản xuất các cơ sở khai thác đá nhỏ ở các địa phương, nhằm tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

- Ngừng khai thác các mỏ đá nằm gần các khu danh lam thắng cảnh, gần các thành phố, khu dân cư để bảo đảm cảnh quan, môi trường. Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân tổ chức khai thác đá ở gần các tuyến quốc lộ, khu dân cư không tuân theo các quy định của Luật Khoáng sản.

- Phát triển sản xuất đá xây dựng theo quy hoạch ở các địa phương có tiềm năng về đá. Các cơ sở sản xuất đá phải có công nghệ nghiền sàng tiên tiến, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng đồng thời bảo đảm các tiêu chuẩn về chất lượng không khí, nồng độ bụi, tiếng ồn và các chất thải. Nghiên cứu, kết hợp sản xuất đá với sản xuất cát nghiền nhân tạo thay thế một phần nhu cầu cát tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên.

g) Cát xây dựng:

- Tiếp tục khai thác cát bê tông theo quy hoạch, bảo đảm an toàn và bảo vệ môi trường sinh thái.

- Tổ chức sắp xếp lại việc khai thác cát nhỏ lẻ của tư nhân ở tất cả các địa phương, hình thành các cơ sở khai thác tập trung theo quy hoạch để tạo điều kiện cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường.

- Phát triển sản xuất cát nghiền với công nghệ tiên tiến, công suất từ 50 nghìn m3/năm trở lên để thay thế một phần cát tự nhiên sử dụng cho bê tông.

- Nghiên cứu việc xuất khẩu cát ở một số tỉnh miền Trung với khối lượng hợp lý, góp phần nạo vét lòng sông, mang lại hiệu quả kinh tế, bảo đảm cân đối cung cầu cát ở các địa phương, bảo vệ môi trường, không gây sạt lở, cản trở giao thông.

h) Bê tông xây dựng:

- Phát triển sản xuất và ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất bê tông cấu kiện đ&uac

  Facebook Liên hệ In trang
Tin liên quan
» Các bước áp dụng ISO 9000
» Hướng dẫn đăng ký công bố hợp chuẩn hợp qui
» Công văn 2383/BXD – VLXD ngày 27/11/2008 của Bộ xây dựng gửi các Sở xây dựng các tỉnh thành phố phát triển vật liệu xây, gạch không nung thay thế cho gạch ngói nung để giảm ô nhiễm môi trường
» Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch (CDM)
» Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số điều của QĐ số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách tài nguyên đối với dự án đầu tư theo cơ chế sạch
» Công văn 03/BXD-VLXD hướng dẫn thủ tục xác nhận thiết bị nhập khẩu để sản xuất vật liệu xây không nung theo Thông tư 201/2010/TT-BTC do Bộ Xây dựng ban hành
» Thông tư số 201/2010/TT-BTC: Quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với vật tư, thiết bị nhập khẩu để phục vụ dự án chế tạo thiết bị sản xuất vật liệu xây không nung
» Thông tư hướng dẫn xây dựng dự án cơ chế phát triển sạch trong khuôn khổ nghị định thư Kyoto
» Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Sản phẩm | Khách hàng | Cẩm nang | Trang ảnh | Liên hệ
© Trang Điện tử DmC Group, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phát triển Đoàn Minh Công
ĐC: Phạm Xá, Ngọc Sơn, Tứ Kỳ, Hải Dương, Việt Nam;
ĐT: 0320 3 624 222/ 0320 3 624 567/ 0320 2 222 333; Fax: 03203.624.623;
VP ĐD: 1803, tòa nhà CT2, 583 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
ĐT: 04355 28072 Fax: 0435528073
Website: www.DmCgroup.vn; Email: info@DmCgroup.vn
-----------------------
® Ghi rõ nguồn "DmC Group" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Designed by Thietkeweb - Seo
 Sơ đồ website